Câu chuyện thứ nhấtCó bảy người đàn ông làm nghề lái buôn, cùng một chuyến đi lấy hàng trên mạn ngược.

Bạn đang xem: Trấn quỷ nhập xác

Vì lỡ độ đường, họ phải ngủ lại nhà của một người kinh đã sống ở vùng đó một thời gian. Lúc vào ngủ nhờ, những người lái buôn được chủ nhà mang đến biết rằng vào nhà họ chỉ có hai vợ chồng, người vợ bị cảm nặng nằm vào buồng, còn bản thân người chủ nhà phải đi lấy thuốc mang đến vợ, sáng hôm sau mới con quay lại. Dù biết có khách, nhưng không còn cách nào khác, chủ nhà vẫn phải đi và nhờ khách trông giúp nhà cửa cùng vợ mình.Khi chủ nhà ra đi, trời cũng vừa sập tối, bảy người lái buôn cơm nước no nê, sau đó quây lại với nhau để ngủ. Vào khoảng gần sáng, người nằm ngoài cùng bỗng cựa mình thức giấc vì một luồng gió lạnh luồn vào nhà. Ông nhìn quanh thì thấy buồng trong nơi vợ chủ nhà nằm đang mở, ngọn đèn dầu đang nhỏ như hột đậu xanh bỗng phụt sáng to lớn lên rồi nhỏ lại dần.Ngay lúc đó, người lái buôn nghe thấy tiếng thở như rít điếu cày vang lên, lúc đầu đều đều về sau càng mạnh hơn, rồi bất ngờ người đàn bà vào buồng lao ra ngoài. Bà ta đến gần người lái buôn thứ nhất, nhấc bổng ông ta như nhấc một miếng gỗ vụn, ghé miệng vào mũi người đàn ông hít một hơi dài, sau đó bà ta quay vào vào buồng. Việc này lặp đi lặp lại mang đến tới lúc bà ta hít hơi của người đàn ông thứ sáu. Cuối cùng cũng đến lượt người đàn ông thứ bảy - người đã chứng kiến từ đầu tới cuối hành động của bà vợ ông chủ nhà.Lúc này ông đã rất sợ hãi, ông cuống cuồng bỏ chạy và va vào các bạn đang nằm, họ lạnh ngắt - hóa ra họ đã chết cả rồi. Người đàn ông bỏ chạy, vợ người chủ nhà đuổi theo, ông chạy càng nhanh bà ta đuổi càng nhanh, anh chạy chậm bà ta chạy cũng chậm. Trời dần hửng sáng, người đàn bà kỳ quái cơ vẫn kiên trì đuổi theo mà không chịu buông tha người lái buôn. Bỗng trước mặt ông xuất hiện một cây gạo, ông liền nghĩ ngay rằng mình phải leo lên đó để trốn.Chưa kịp thực hiện ý định, bỗng người đàn ông nghe tiếng phập phập thật lớn, thân cây rung chuyển, ông hoảng hốt vấp ngã và bất tỉnh. Khi trời sáng hẳn, người qua đường nhìn thấy một cảnh tượng hãi hùng, dưới gốc cây gạo có một người đàn ông nằm thoi thóp sắp chết và xác một người đàn bà mà tay phải của bà ta xỉa ngập vào thân cây đến gần khuỷu.Sau khi cứu chữa và nghe người lái buôn kể lại chuyện, mọi người nói với ông rằng ông đã gặp phải quỷ nhập tràng. Căn nhà mà bảy người lái buôn ở nhờ vốn quàn xác chết của vợ người chủ nhà, bà ta bị quỷ nhập nên tỉnh dậy hút hết linh hồn sau người kia, người thứ bảy may mắn mới thoát chết.Ở nước ngoài, rất nhiều trường hợp có thật được ghi chép rằng sau khi chết họ đã tỉnh lại như ông Beda Doxtotrennui, một tu sĩ người Anh, sau khoản thời gian chết đã được mang lại vào quan liêu tài vào lúc nửa đêm, sáng sớm ông đội nắp quan liêu tài nhổm dậy.Câu chuyện thứ 2Câu chuyện này tôi nghe bà ngoại kể từ khi còn nhỏ xíu. Gần bố mươi năm qua rồi, nhưng chi tiết trong câu chuyện vẫn cứ như in vào đầu tôi, có lẻ hồi đó nó đã để lại một dấu ấn ghê gớm trong trí óc non nớt của một đứa trẻ là tôi.Quê của bà ngoại ở Ninh Bình (một tỉnh nhỏ thuộc miền Bắc). Bà ngoại tôi quen thuộc người có họ là Nhiêu Trinh, năm đó cũng bãy mươi cha tuổi rồi. Ở nhà quê hồi đó người ta khắng khít đùm boc nhau lắm, nhất là bà Nhiêu Trinh lại là một tấm gương đáng để mọi người phụ nử noi theo. Cả cuộc đời bà từ tấm bé tới lúc nhắm mắt lìa đời, luôn sống vì mọi người, bà không nề hà bất cứ việc gì có thể giúp đở được mang lại người khác. Hầu như tất cả những người phụ nử cũa làng bà và kể cả những làng lân cận mọi khi tới ngày sinh đều phải nhờ tới tay bà. Bà là bà mụ mát tay nổi tiếng khắp vùng. Ðiều đặc biệt là bà làm vậy thôi chứ không lấy tiền công, người nhà quê nghèo lắm, họ đối với nhau bằng tình nghĩa hơn là vật chất. Chính vì vậy họ hàng và làng xóm ai cũng kính yêu bà, tới trẻ nhỏ người lớn vào làng ai cũng gọi bà là bà ngoại. Người ta thường sở hữu quà biếu bà mổi khi có chút quà mọn dù là cũ khoai lang xuất xắc mo trầu không. Phụ thân mẹ bà mất sớm, nên bà phảinuôi một đàn em thơ dại nên mãi tới năm cha mươi tuổi bà mới lấy chồng. Bà làm lẻ cho ông Nhiêu Trinh ( một chức sắc vào làng ). Gia đình chồng hiếm hoi, từ đời ông cố tới đời chồng của bà đều cũng chỉ có duy nhất một người nhỏ trai. Ông lấy cha bà vợ trước đó nhưng không bà nào sinh mang lại ông được một mụn con, vậy mà khi bà về làm bạn với ông thì một năm sau lại sinh ra mang đến ông một đứa bé nối giỏi. Ông cưng cậu đàn ông quý như trứng mơng, chính vì thế bà cũng được thơm lây. Tiếng là ông có nhiều vợ nhưng các bà luôn thuận hoà vói nhau, trên kính dưới nhường. Cả bốn bà phổ biến nhau một ông chồng và một thằng nam nhi theo đúng nghĩa, các bà đều quý mến cưng chiều thằng nhỏ, nó muốn gì là cho nấy. Thời gian trôi qua, tía bà vợ trước và ông Nhiêu Trinh lần lượt qua đời. Bà lại một mình cheo chồng nuôi con, cố chồng gánh vác mọi việc hiếu hỉ của làng xóm cũng như họ hàng.Khi anh Trúc lấy vợ, bà mừng lắm, bà ước ao có bé dâu ngoan hiền của bà sẽ chóng sinh đến bà một bầy cháu nội, để cho vui nhà vui cửa . Nhưng rồi cũng vẫn như một lời nguyền dai dẳng, anh Trúc lấy vợ cũng phải tới mười sáu năm sau mới có được một thằng bé trai. Khi thằng cháu ra đời, bà coi như những tâm nguyện của mình đã đạt được một phần nào, mặc dù nhien bà vẫn ao ước muốn là anh Trúc sẽ cho bà thêm vài đứa cháu nửa. Thằng Vinh cháu bà năm đó mới có tía tuổi, Bà thương cháu lắm. Ngày ngày chính bà là người tắm rửa và chăm nôm đứa bé. Lúc tuổi già sức yếu, người mà bà lo lắng nhất vẫn là đứa cháu đích tôn. Mổi lúc nhìn cháu là bà lại chảy nước mắt vì bà cũng đoán được cái ngày mà bà cháu bắt buộc phãi xa lìa nhau cũng gần tới nơi rồi. Bà thường nhường nhịn từng miếng quà tấm bánh mà bà bé họ hàng mang tới thăm để mang lại cháu.Người ta vào đời ai rồi cũng có sinh ly tử biệt, dù là người tốt xuất xắc người xấu thì cũng tới lúc phải nhắm mắt xuôi tay từ giả cuộc đời . Bà cũng vậy, rồi cũng tới ngày mà bà không còn gắng gượng được nửa, bà không ăn được cũng đã gân mười ngày rồi, bà chỉ có thể thắm môi vài giọt nước thôi. Ðêm trước hôm bà chết có nhỏ chim heo cứ đậu ử đầu hiên nhà kêu liên hồi,. Người nhà quê tin là nếu chim heo bay tới đậu lên mái nhà nào và cất tiếng kêu thì y như nhà đó có người chết. Hôm bà chết trời mưa tầm tả, sấm chớp liên hồi, giữa trưa mà chẳng thấy được một tia nắng. Ðúng giờ Ngo thì bà trút hơi thở cuối cùng trong sự thương tiếc của mọi người. Vì chết vì bệnh già và lại cũng không ăn uống gì đã cả chục ngày nên bà đã gầy nay lại càng khẵng khiu hơn. Bà nhỏ xóm giềng xúm vào mọi người một tay lo mang đến hậu sự của bà. Người thi lo chặt cây chuối để trước hòm áo quan, người thì lo luộc trứng vớt dừa. Bà chết nhằm ngày xấu và cả mấy ngày sau cũng vậy, nhưng không thể để cái áo quan liêu quá lâu được nên mọi người bàn với nhau chắc là bà cả đời nhân đức nên cũng không sao. Người ta dự định sẽ chôn bà vào ngày thứ ba. Ðêm đều trôi qua bình thường. Ðêm cuối cũng tự nhiên có rất nhiều điều kỳ lạ xảy ra. Tiếng chim heo kêu không dứt mặc dù vào nhà đã có người chết. Mèo gào suốt đêm và chó thì sũa ầm ỉ cả làng. Không ai bảo ai nhưng mọi người mơ hồ cảm thấy lo lắng về một điều gì đó sắp xảy ra.Có tới hơn chục người thức đêm trông quan lại tài của bà. Ðám thanh niên ngồi túm lại một góc kể chuyện ma. Mấy người già cũng nhóm lại với nhau để nói chuyện mùa màng làng nước. Cách đó vài chục bước chân là quan tài cũa bà Nhiêu Trinh. Khoãng cha giờ sáng bổng có tiếng động nhẹ. Mới đầu không ai để ý nhưng rồi sau đó tiếng động càng lúc càng rõ ràng hơn. Mọi người thi nhau phỏng đoán xem là tiếng động đó được phát ra từ đâu. Người thì nói là chuột chạy kẻ thì kêu là chó phá. Chẳng ai dám thừa nhận tiếng động đó là từ phía quan lại tài phát ra bởi vì ai cũng cố không tin vào điều đó. Bổng thằng Vinh đang ngũ bật ngồi dậy gọi bà nội. Nó nói là vừa nghe thấy bà nó gọi nó và nó cứ chăm chăm nhìn vào chiếc hòm nơi mà bà nó đang nằm vào đó. Mọi người không ai dám nói một tiếng nào nửa. Chó cũng ngừng sủa và mèo cũng chẳng còn kêu gào. Vào không khí ngột ngạt và yên ổn lặng như trước một cơn giông ấy thì tiếng bà Nhiêu Trinh từ vào áo quan liêu yếu ớt vang lên “cho tôi ra, mang lại tôi ra, tôi vẩn còn sống đây”. Hồn vía lên mây, chẳng ai rủ ai mà tất cả cũng nhao nhao chạy trốn ra khõi căn nhà của anh Trúc.Tính tò mò bao giờ cũng với lại mang lại người ta rất nhiều phiền phức và có khi những lổi lầm đó còn có thể dẩn tới tai họa. Sau thời điểm ra khõi nhà anh Trúc một quãng, mọi người dừng lại và đứng tụm lại một chổ để nghe động tỉnh. Một lúc lâu sau không thấy có gì xãy ra, mấy anh thanh niên thách đố nhau xoay trở lại ngôi nhà xem có gì xãy ra không. Vợ chồng anh Trúc lúc chạy vội vàng quá tới nổi quên cả thằng Vinh. Người này cứ tưỡng người cơ cơng thằng bé đi rồi, giờ nhìn lại thì mới biết là cả nhị vợ chồng lo chạy quá mà quên mất con. Hai vợ chồng bàn nhau xoay trở lại nhà để đưa thằng Vinh ra. Lạ một điều là trước tới giờ thằng nhỏ chẳng bao giờ chịu ở đâu một mình, lúc nào cũng phải có người ở bên cạnh, thế mà từ nảy tới giờ chẳng thấy nó khóc lóc gì. Anh Trúc dẫn đầu cả đám thanh niên tảo trở lại. Người nào cũng cố tỏ ra không sợ hãi, cứ bụng bão dạ là làm gì có ma mà sợ. Thực ra thì trong ngực anh nào cũng đánh thùm thụp cả. Tới đầu hè thì nghe thấy tiếng thằng Vinh bi bo nói chuyện, cứ một câu bà nhị câu cháu. Thế là cả đám lại ù té chạy ra cách đó một quãng. Mẹ thằng Vinh sợ quá đứng run cằm cặp. Anh Trúc lúc này bổng nhiên thấy hết sợ, tình cha con là hơn hết, anh một mình bước rón rén lại căn nhà. Vào nhà vẫn chẳng có tiếng động nào khác ngoài tiếng của thằng Vinh. Thu hết can đãm anh bước vội vào nhà và bê thằng con chạy ra ngoài. Cả đám nhao nhao hỏi chuyện thằng bé. Ai cũng thông thường một thắc mắc " thằng Vinh nói chuyện với ai?". Thằng bé lên tía cứ từng câu từng câu nói ra một cách rành mạch. Nó kể là bà nội nó chưa chết, bà nội nó chỉ bị mệt rồi ngủ quên, bà đang nằm trong hòm chờ bố Trúc vào mở mang lại bà ra. Anh Truc nghe tới đây thì thấy hết sợ hẳn, anh chỉ thấy thương mẹ nằm vào hòm suốt nhị ngày một đêm. Anh vội vàng chạy vào để đưa mẹ ra ngoài.Vào tới nơi, anh Trúc nghe thấy tiếng bà Nhiêu Trinh gọi thì thào "Trúc ơi, cho mẹ ra, nằm mõi quá rồi, đứa nào nó bó tao mà chật thế?". Nghe thấy vậy, anh lại càng tin là mẹ còn sống . Thế là anh nhào lại mở nấp hòm để đưa bà ra. Lúc này mọi người đã xoay trở về đông đũ, ai cũng thấy mừng vì bà còn sống nhưng vẫn không hết hồi hộp. Mấy người thanh niên xúm vào khiêng bà ra khõi hòm. Lạ một điều là lúc trước bà nhẹ như đứa trẽ thì bây giờ thấy có vẽ nặng hơn nhiều. Ông Bách là người hôm trước tự tay khâm liệm bà, giờ lại cũng tự tay tháo đi những lớp vãi bó đi, vừa làm ông cứ vừa luôn miệng trách mình tại sao lại bất cẩn tới nổi bà còn sống mà cũng không biếtTừng lớp vãi được tháo dần ra, mọi người vì quá vui nên chẳng chú ý một điều là bà Nhiêu Trinh bây giờ nói nhiều và cộc cằn khác hẳn tính điềm đạm trước đây. Miệng vãi liệm cuối cùng được tháo ra, bà lừ mắt nhìn mọi người và gằn giọng "thế chúng mày ý muốn bà chết lắm giỏi sao mà bà mới ngũ quên một chút mà đã vội vàng làm đám ma mang đến bà?". Mọi người ngồi nán lại để nói chuyện với bà nhưng bà cụ luôn miệng trách móc và đòi ăn. Anh Trúc thấy mẹ biết đói thì mừng lắm, từ lúc thấy mẹ chồng tỉnh lại, mẹ thằng Vinh đã chạy vội ra sau bếp đặt nồi cháo, định là để đến bà húp chút nước lấy lại sức. Cháo chưa chín nhừ nhưng bà Nhiêu đói quá nên chị cũng đánh liều múc một bát lên mời mẹ. Nhìn thấy bát cháo, mắt bà Nhiêu sáng rực, bà nhào lại giật lấy từ tay con dâu húp luôn một hơi. Cháo mới nấu còn nóng, vậy mà bà dường như chẳng có cãm giác gì cả. Chắc là cả mười ngày nhịn đói trước đó và nhì ngày nằm không một giọt nước vào hòm làm bà trở nên như vậy. Bà giục bé dâu chạy xuống bếp lấy nửa. Chị Trúc lật đật chạy xuống bưng nguyên nồi cháo lên mang lại bà. Trong lúc chờ bé dâu, bà thấy nải chuối để đầu hòm, bà sai một người đứng gần đó với lại cho bà. Chuối mới chặt là chuối còn xanh, thế mà bà cứ từng quả từng quả ăn ngon lành. Có lẻ cách ăn cũa bà bây giờ phải gọi là nuốt vội vì bà khộng có răng thì làm sao mà nhai? Ngối với bà một lúc lâu rồi mọi người bắt đầu bảo nhau về đến bà nghĩ. Bà chẳng muốn thế vì bà còn đang thích nói chuyện. Sau khoản thời gian người cuối cùng rời khõi nhà, bà vẫn còn đang thao thao. Tới sáu giờ sáng bà mới ngáp dài rồi kêu là buồn ngũ, anh Trúc dìu mẹ vào giường và giục vợ phụ anh dọn dẹp những thứ trước đây dùng mang lại đám ma. Cái hòm thì để lại góc nhà (ở nhà quê ngày trước người ta có thói quen thuộc tích trử áo quan trong nhà lúc gia đình có người già cả).Cả ngày bà Nhiêu Trinh ngũ li bì, mấy lần anh Trúc tới mời mẹ dậy ăn cơm mà cũng chẳng thấy bà nhúc nhích , anh Trúc thỉnh thoảng lại phải sờ tay mẹ coi mẹ có còn sống tốt không. Bà nằm đó, cũng giống như thời gian trước đây, yếu ớt và hơi thở thì thỉnh thoãng lại đứt quãng, khác hẳn với sự linh hoạt cũa đêm hôm qua. Thằng Vinh cứ khóc đòi bà nội bế nhưng bà chẳng hé mở mắt suốt từ lúc ngũ tới sầm tối. Chừng sáu giờ chiều thì bà cựa mình thức dậy, câu đầu tiên là kêu đói và sau đó là mắng thằng Vinh không để yên đến bà ngũ. Chị Trúc có nấu sẳn nồi cháo, bèn đưa lên mời mẹ. Cũng lại như đêm trước, bà chẳng cần chờ nguội mà cứ húp luôn một hơi. Hết bát này tới bát khác, làm mang lại cuối cùng chị Trúc phải bưng nguyên nồi lên. Chị định nấu nồi cháo đó mang đến mẹ ăn tới tối vậy mà chỉ vào một lúc là bà ăn hết sạch trơn. Thằng cháu đứng cạnh đó cứ ngẫn cả người vì thèm quá, trước đây, chẳng bao giờ bà không nhường cho nó.…Ăn xong, bà lấy một cái nón lá đội lên đầu rồi đi ra khõi nhà. Dáng đi cũa bà thoăn thoát không giống như là một người già và nhất là cũa một người vừa qua cơn thập tử nhất sinh. Anh Trúc hơi băn khoăn lúc thấy mẹ đội nón vì trời không còn có nhiều nắng nhưng anh cũng không hỏi gì bỡi vì anh đến là mẹ vừa chết đi sống lại thì thế nào cũng có những việc khác với thói quen thuộc lúc trước. Bà Nhiêu Trinh đi ra tới đầu ngõ là đã gặp bà bé lối xóm, người nào cũng vồn vã hỏi han và mừng mang lại bà thoát qua cơn hiểm nguy, nhưng đáp lại sự chân tình cũa mọi người là thái độ khinh khinh cũa bà.

Xem thêm: Lý Trí Trong Tình Yêu - Giữa Con Tim Và Lý Trí

Chẳng nói chẳng rằng, bà cụ rườm rườm nhìn lại, làm cho người bắt chuyện cãm thấy ngạc nhiên và còn pha một chút sợ hãi. Qua tới cửa nhà ông Bách, thấy bà Bách và đứa cháu nội đang thơ thẩn chờ ngoài ngõ, bà xắn ngay lập tức lại nhiếc móc chuyện ông Bách bó vãi bà chật quá. Bà Bách cứ luôn miệng xin lổi và mời bà vào trong nhà uống nước. Thằng cháu nhỏ cũa bà Bách có cũ khoai đang cầm trên tay, chẳng nói chẳng rằng, bà Nhiêu giành lấy nuốt vội, thằng bé khóc ré lên, bà nội nó chẳng hiểu có chuyện gì mà thằng nhỏ lại trở chứng như vậy. Trời xầm tối nên gà nhà bà Bách lục tục kéo nhau lên chuồng, nhìn thấy mấy bé gà mẹ với đám gà con, mắt bà Nhiêu Trinh sáng rực lên. Ngồi nói chuyện được một chút thì bà lại quay qua ra đi. Ði ngang qua chuồng gà, bà liếc mắt nhìn có vẽ toan tính điều gì đó. Anh Trúc ở nhà chờ cơm mẹ mà chẳng thấy bà đâu, sốt ruột quá, anh chạy ra tận ngoài đường để ngóng. Trời đã tối hẳn, anh thấy thấp thoáng đằng trước có bóng người đang tiến lại thật nhanh về hướng nhà mình, vào chốc lát, người đó đã đi tới gần ngay lập tức trước mặt anh, đó chính là bà Nhiêu Trinh. Lúc này bà đã không còn đội nón nữa, bà nhìn anh với cặp mắt long sòng sọc nhưng vẽ mặt lại tươi tắn hơn trước lúc đi rất nhiều. Ngồi vào mâm cơm, bà ăn liền mấy bát, bà cứ chọn những thứ ngon nhất để ăn mang đến thoả thích. Thằng Vinh cứ hết nhìn vào mâm cơm lại nhìn bà nội, chắc là nó đang thắc mắc lắm. Anh chị Trúc rửa tay chấm dứt lên chuẩn bị ăn cơm thì thấy chỉ còn có vài miếng cơm cháy dưới đáy nồi. Thức ăn cũng gần hết chỉ còn loe ngoe mấy cọng rau. Vào lúc đó bà Nhiêu Trinh ngồi uống nước chè xanh ở đầu giường, bà đến cã hai chân lên giường rồi ngửa mặt sục ngụm nước on gong trong miệng. Thấy mẹ khác lạ quá , anh Trúc hơi sợ sợ nhưng chẳng dám nói ra. Ở nhà quê người ta đi ngũ sớm lắm, thường thì ăn cơm dứt là chuẩn bị đi ngũ rồi. Gia đình bà Nhiêu Trinh cũng vậy. Vợ chồng nhỏ cái anh Trúc đã đi nằm, nằm được một lúc rất lâu mà vẩn còn thấy bà Nhiêu ngồi xỏm trên giường uống nước và nói chuyện một mình. Nhưng câu chuyện mà bà nói chẳng đâu vào đâu, nhưng bà nói liên tục không ngơi miệng. Nhị vợ chồng cứ hỏi nhau là có chuyện gì xảy ra với mẹ nhưng cả hai cũng đành chịu vì chẳng biết trả lời ra làm sao. Thức quá thì cũng mệt, anh chị Trúc ngũ lúc nào không biết...... Sáng sớm hôm sau, anh Trúc dậy để đi ra đồng thì lại thấy mẹ đang nằm thiêm thiếp trên giường, hơi thỏ bà yếu lắm. Anh Trúc đinh ninh là đêm qua vì mẹ thức quá khuya nên hôm nay mới vậy. Dặn dò vợ lo mang lại mẹ cẩn thận, anh quay người lấy cày cuốc để đi làm công việc nhà nông. Cũng như ngày hôm qua, bà cứ nằm lã trên giường, một chút nước cũng không thể nhấp môi được. Ở làng này từ trước tới ni chẳng hề xảy ra chuyện trộm cắp, người làng chẳng bao giờ phải lo lắng chuyện mất mát này nọ. Thế mà hôm nay, nhà bà Bách lại mất một bé gà mái, bà đi tìm nó loanh xung quanh luôn quận mà chẳng thấy đâu. Ðàn gà con không có mẹ cứ ngơ ngác rất là tội nghiệp, cũng may là nhà bà có mấy nhỏ gà mái khác cũng đang nuôi con nên bà đành để mang lại chúng nó nhập bình thường đàn.Chiều tối anh Trúc về vào thăm mẹ thì chẳng thấy bà đâu, hỏi vợ thì chị nói bà vừa ăn chấm dứt nồi sắn luộc và đội nón đi rồi. Chị còn nói mang lại chồng nghe là hôm nay bà nội với thằng Vinh ra đầu hè lấy chổi đập túi bụi vì cái tội nó cứ đòi bà bế, chị xót bé lắm nhưng chẳng dám nói sợ mẹ không vui.Từ đó trở đi, ban ngày thì bà nằm thiêm thiếp như con cá được mang lên cạn, còn mổi khi mặt trời chuẩn bị khuất bóng là bà lại cắp nón đi ra khõi nhà. Hàng xóm láng giềng thấy tính tình của bà ngày càng rứa đổi, nhất là mấy đứa trẻ bé mổi lần nhìn thấy cặp mắt long sòng sọc của bà là lại lẩn trốn ra đàng sau lưng người lớn. Mới đầu người ta vẫn còn cho là bà bị cụ đổi tính tình sau lần chết hụt nhưng dần dần về sau ai cũng sợ bà, không những trẽ con mà cả người lớn cũng rất ngại gặp bà. Mỗi khi nhìn thấy bà từ xa là người ta đã tìm cách lẩn tức thì sang chổ khác nhưng thường là không thành công vì bà đi cấp tốc lắm, chỉ thoáng một chốc là đã tới tức thì bên cạnh họ rồi. Mỗi khi gặp ai, bà thường gầm gừ những gì không rõ, thỉng thoảng có câu nào nghe được thì toàn là nuốt và bóp chết, cặp mắt cũa bà ngày càng sáng rực, giống y hệt cặp mắt mèo bật ánh sáng vào đêm. Vào làng liên tục xảy ra các vụ mất trộm gà, người ta mang đến là gần đây có cáo. Mọi nhà ra sức buộc cửa chuồng gà mổi khi trời tối rất kỷ càng nhưng tình trạng đó vẫn liên tục tiếp diễn, ngày ít thì một con, ngày nhiều có lúc là nhì hay cha con. Lạ một điều là mấy con gà mái nuôi thường kêu rất lớn mổi khi bị chạm vào người, đằng này, chẳng bao giờ có tiếng động gì để chủ nhà biết mà chạy ra xem. Mổi sáng thấy đám lông gà ở ngay lập tức góc tre đầu nhà nào là y như răng nhà dó đêm qua vừa bị mất trộm. Dân làng hoang mang lo lắng lắm, quyết rình bắt bằng được con cáo tinh ranh.Trong lúc ấy ở nhà anh Trúc cũng liên tiếp xãy ra nhiều sự lạ. Bà Nhiêu Trinh ngày càng hồng hào và trẻ ra trông thấy. Bà đã bắt đầu mọc lại răng và tóc cũng xanh trở lại. Lúc này bà không còn nằm lã suốt cả ngày nửa mà mỗi trưa bà đều thức dậy khoẻ mạnh y như lúc mặt trời khuất bóng, qua giờ Ngọ một chút thì bà lại nằm vắt xuống ngũ li bì. Thằng Vinh hồi trước được bà cưng chiều chừng nào thì bây giờ bị bà ghét chừng đó, không thấy nó thì thôi chứ hể thấy là thế nào bà cũng lôi ra đánh. Riết rồi thằng bé sợ bà cũng giống như những đứa trẽ vào làng sợ bà vậy. Bà ăn ngày càng khoẽ, sức ăn cũa bà thì hai người thanh niên cũng không lại. Mỗi bữa tối bà có thể ăn hết cả một nồi cơm nhị đấu (một đấu bằng một kg). Ðặc biệt bà thích những thứ còn tươi sống, hôm trước chị Trúc cài đặt được mớ cá người ta mới tát ao trong làng, chị đem thả vào vạc nước định đến trưa dọn dẹp hoàn thành sẽ làm. Hoàn thành xuôi chị trở ra thì chẳng thấy cá đâu, loang quanh luân quẩn một hồi chị vào lại vào nhà, nhìn thấy mẹ nằm trên giường chẳng hiểu nghĩ thế nào chị lại gần để xem thì ôi thôi, mép bà còn dính mấy cái vẩy cá. Chị đem chuyện này kể cho chồng nghe, anh Trúc gắt ngayđi và đến là vợ nói chuyện vớ vẫn. Thực ra anh nói vậy là để trấn an mẹ thôi chứ chính anh mấy hôm trước nhìn thấy mẹ bắt con thằn lằn trên tường nuốt sống.Tháng trôi qua kễ từ lúc bà Nhiêu Trinh sống lại, ngôi làng nhỏ bé đó có quá nhiều nỗ lực đổi. Ðiều quan lại trọng nhất là mọi người đã mất đi tiếng gọi “bà ngoại” thân thương đối với bà Nhiêu. Hôm đó vào giữa trưa, cái quán nước đầu làng cũa đưa ra Thắm có người khách lạ. Ông khách này trông chừng ngoài sáu mươi, người gầy đét và đen thui, vẽ mặt khắc khổ, chỉ có mổi đôi mắt là tinh anh. Ông ngồi uống nước mà mắt cứ chăm chăm nhìn về phía cuối làng, ông hỏi chị Thắm là gần đây trong làng có chuyện gì lạ xãy ra không. Chị Thắm có đầu đuôi câu chuyện ra kể đến ông già nghe. Vừa lúc đó bà Nhiêu Trinh đội nón lá đi thoăn thoắt ngang qua. Chị Thắm chưa kịp lên tiếng thì ông già lạ đã hõi “người kia có phải là cái bà già mà chị nói là chết đi sống lại tốt không?”. Chị Thắm gật đầu. Ông khách nói tiếp “nếu chị thực tình muốn cứu gia đình người con trai cũa bà đó thì làm cách nào bảo người nhà cũa họ ra đây gặp tôi càng sớm càng tốt, mà nhớ là đừng để cho bà cụ biết nhé”. Chị Thắm chẳng hiểu có điều gì xãy ra nhưng nghe giọng ông cụ có vẽ nghiêm trọng, chị vội vàng để quán lại nhờ ông trông rồi chạy đi tìm anh Trúc.Lúc tới nơi, chị không dám lên tiếng mà đứng thập thò ngoài đầu ngõ bỡi vì chị nghe thấy tiếng bà Nhiêu đang chửi bới gì đó ở trong nhà, chị nhìn thấy vợ chồng anh Trúc đang đứng ngay gần đó. Ðang loay hoay tìm cách để ngoắc chị Trúc ra thì bổng chị Thắm nghe tiếng tía Nhiêu nhắc tới tên mình “con Thắm mà dám ló mặt qua đây thì bà vặn ngược cổ từ đằng trước ra đằng sau”. Nghe thấy vậy hồn vía lên mây, chị Thắm cha chân bốn cẳng chạy mất biệt. Về tới quán nước, chị nói mang lại ông khách lạ nghe câu chuyện vừa rồi. Ông già chăm chú nghe và cuối cùng thì nói mỗi một câu “thế là nó biết rồi đây”. Ông trả tiền nước rồi đi, trước đó ông dặn lại chỉ một câu “cô nói với anh Trúc là sáng sớm ngày mai ra đây gặp tôi, chuyện gắp lắm, nguy hiểm tới tính mạng”. Chị Thắm không dám cù lại nhà anh Trúc mà phải nhờ một người hàng xóm có thửa ruộng tức thì cạnh ruộng anh Trúc nhắn anh Trúc ra gặp. Nghe tin, anh Trúc vội vàng bỏ việc lại đấy để ra coi có chuyện gì mà hồi trưa mẹ mình giận dử thế và giờ thì chị Thắm nhấn ra gặp. Chị Thắm kể lại mang đến anh Trúc nghe những lời ông khách hồi trưa nói với chị và dặn anh phải thật cẩn thận không để bà Nhiêu biết.Tối đó khác hẳn mọi bửa, bà Nhiêu không đi ra khõi nhà nửa, bà ngồi xõm trên giường, luôn miệng chửi bới và hơn nửa bà lại còn giử chặt thằng Vinh không đến nó đi đâu mặc mang lại thằng bé khóc khan cả giọng. Anh Trúc thấy tình hình có vẽ không ổn nên sáng sớm hôm sau thời điểm bà Nhiêu vừa nằm xuống ngũ thì anh vội vàng chạy ngay ra đầu làng gặp ông già lạ. Tới nơi, anh chưa kịp thở thì đã thấy ông già đứng chờ với vẽ mặt hiện rõ sự sốt ruột. Chờ cho anh Trúc lấy lại hơi, ông bắt đầu hỏi từng chuyện một. Anh Trúc có tất cả những chuyện lạ lùng ra nói cho ông nghe. Sau cùng ông già đó mới nói mang lại anh Trúc biết hiện giờ người đó không còn là mẹ anh nửa, vì mẹ anh chết vào giờ linh nên bị quỷ nhập tràng rồi. Hôm qua tôi đi ngang làng này, nhìn thấy phía cuối làng toàn là âm khí, nhất là lúc ngồi uống nước ở đây tôi đã nhìn thấy nó đi nhón gót ngang qua đây. Hiện giờ nó đã lấy được nhiều sức mạnh. Chuẩn bị tới một trăm ngày kể từ hôm mẹ anh sống lại, bé quỷ đó sẽ không còn bắt trộm gà tuyệt ăn cá sống nữa mà nó sẽ chuyễn sang trọng thằng bé nhà anh. Anh Trúc nghe tới đây thì tái mặt, mồ hôi tuôn như mưa, anh van lạy ông già tìm cách cứu gia đình và làng xóm. Ông già đưa mang đến anh tía lá bùa màu đỏ và dặn dò cẩn thận. Chẳng hiểu ông nói gì mà anh Trúc cứ vâng dạ luôn miệng.Về tới nhà thì đã là giờ trưa, bà Nhieu không còn ngũ nửa mà đã ngồi dậy đòi ăn và ôm khư khư thằng Vinh. Anh Trúc tìm cách nói là mang đến thằng bé đi cắt tóc để bà thả nó ra nhưng nhất khoát bà không nới lơng dù chỉ một ngón tay. Anh Trúc nhìn thấy vậy lộ rõ vẽ lo lắng trên khuôn mặt. Suốt trưa hôm đó bà không rời khõi nhà, ăn uống chấm dứt là tới giờ bà ngủ, bà vừa ngủ vừa quặp chặt thằng Vinh. Thằng bé khóc suốt từ hôm qua tới giờ nên cũng không còn sức nữa, nó lã cả người đi rồi. Tới chiều thức dậy bà đổi giọng không chịu ăn cơm, bà đòi ăn thịt gà, chị Trúc cũng cố làm vừa lòng bà để hy vọng bà thả thằng bé ra nên chạy qua nhà hàng xóm download vội bé gà về làm lông rồi luộc với lên. Thấy con gà luộc, bà lại bắt đầu chửi bới, bà chửi chị Trúc ngu, nhỏ gà tươi thế mà lại giết chết mới mang lên mang đến bà. Chị Trúc nghe tới đâu dựng tóc gáy tới đó. Cuối cùng thì bà cũng làm sạch con gà. Mẹ thằng Vinh van lạy bà thả nó ra để mang đến nó ăn chút cháo, bà Nhiêu không đồng ý mà bắt chị đưa cháo đến bà đút mang đến thằng nhỏ ăn. Ngày hôm đó là ngày thứ chín mươi tám kể từ khi bà sống lại.Sang tới ngày chín mươi chín thì sức khoẽ cũa bà gần như là tăng vườt trội, bà không còn ngũ một chút nào nữa, bà thức sáng đêm rồi lại thức nguyên ngày. Nghe lời ông già dặn, anh Trúc nói vợ vẩn cứ có gà luộc lên đến bà, mặc dù bà yêu cầu có gà tươi. Bà vừa ăn vừa chửi, mắt bà vằn lên những tia đỏ như máu, bà luôn miệng nói và bây giờ người ta có thể nghe rõ là bà nói gì. Bà nói sẽ ăn thịt uống máu từng đứa trong làng, đến tới lúc nào không còn một móng mới thôi. Ðêm hôm đó, chị Thắm đã chuyển lời cũa ông già tới những người cao niên trong làng, các cụ hợp mặt ở đình làng (là nơi linh thiêng nhất vào làng) để bàn chuyện cơ mật. Sau đó các cụ sai người đi gọi mấy anh thanh niên lớn khoẽ cấp tốc nhẹn nhất làng để bàn giao công việc.Hôm ni là ngày thứ một trăm. Tức thì từ lúc gà mới gáy, bà Nhiêu đã tõ vẻ vui mừng lắm, bà cười nói ầm ĩ và có vẽ chờ đợi điều gì đó. Càng tới gần trưa thì bà lại càng hoạt bát và dữ tợn. Trong lúc đó, anh chị Trúc không biết bằng cách nào để với thằng bé ra ngoài bởi vì bà nhất quyết không rời nó ra một chút nào. Nghĩ ngơi một lúc, tự nhiên chị Trúc nãy ra sáng kiến. Cũng vào lúc đó ở trên nhà bà Nhieu đang la hét đòi ăn. Nắm vì chị sở hữu lên mang đến bà gà luộc như mấy hôm trước thì lần này chị mang cho bà một bé gà mái to còn sống. Thấy nhỏ gà, mắt bà sáng rực lên, bà nhào tới giật lấy nó từ tay chị Trúc, chỉ chờ có thế anh Trúc đang nấp sẳn cấp tốc như cắt nhảy tới giật lấy thằng Vinh rồi chạy ra khõi nhà. Bà Nhieu sững người một chút rồi thét lên đuổi theo. Lúc này bên ngoài mấy người thanh niên và ông già lạ mặt đã chực sẳn, họ lấy cành dâu quay liên hồi làm bà không dám nhảy ra phía ngoài cửa, tuy nhiên lúc này bà trở nên nhanh nhẹn và hung dử khác thuong, bà nhảy tới nhảy lui trong tía gian nhà mà chân không bén dất. Lúc đó, ông già tiến vào nhà, trên tay ông là một nhánh dương liễu và một bình nước thiêng. Ở phía bên cơ (cửa bếp) anh Trúc cũng tiến vào. Bà nhìn thấy ông già liền nhãy lui lại về phía cửa bếp. Thấy anh Trúc bà rú lên như nhìn thấy bé mồi. Anh Trúc hoảng hốt toan bỏ chạy, ông già vội la lớn lên “ném bùa vào nó đi, không thì nó giết chết bây giờ” anh Trúc xoay lại lấy hết tinh thần ném một lá bùa về hướng bà Nhiêu. Thấy lá bùa, bà Nhiêu khựng lại có vẽ sợ hãi nhưng khi thấy anh Trúc ném trượt, bà tiếp tục nhào lại phía anh. Anh Trúc ném tiếp lá bùa thứ hai, lại trượt. Lúc này bà Nhieu chỉ còn cách anh Trúc khoảng nhị lần với tay, anh Truc chắc mẫm cái chết ở gần kề rồi. Nhắm mắt quăng liều lá bùa thứ ba. Ðúng là ở hiền gặp lành, lá bùa thứ bố trúng ngay vào giữa ngực bà Nhiêu. Lúc này hình dáng bà đã hoàn toàn cố đổi. Không còn chút nào là dáng vóc cũa bà Nhieu lúc trước. Tóc bà dựng ngược, mắt đỏ lòm như muốn lồi ra khõi hốc mắt, miệng thì ngoác ra nhìn thấy cà hàm răng trắng nhởn. Lúc lá bùa chạm vào người, bà thét lên một tiếng kinh hoàng rồi ngã vật ra đất. Lúc bấy giờ mọi người kéo vào chật ních trong nhà. Dưới đất bây giờ là một cái xác thối rữa, không còn một bộ phận nào nguyên vẹn, ngay lập tức cả khuôn mặt cũng không còn nhận dạn